Phan2.
Sáu cách gây thiện cảm
Chương một
Để cho tới đâu cũng được tiếp đón niềm nở
Thiệt t́nh bạn cũng chẳng cần đọc sách này mới biết cách đắc nhân tâm. Bạn chỉ
cần áp dụng những phương pháp thu phục cảm t́nh của một con vật mà cả hoàn cầu
không ai không thương mến.
Lát nữa ra đường bạn sẽ gặp nó. Khi c̣n xa bạn chừng mười bước, nó đă bắt đầu ve
vẩy đuôi rồi. Nếu bạn ngừng lại mà vuốt ve nó th́ nó chồm lên và tỏ ra trăm vẻ
yêu đương và bạn có thể biết chắc chắn rằng trong sự nồng nàn đó không có một
mảy may vụ lợi v́ nó chẳng cần bạn mua giúp một vài món hàng ế, mà cũng chẳng
ham ǵ được kết duyên cùng bạn.
Có bao giờ bạn ngừng lại một phút mà suy nghĩ rằng trên vũ trụ này, chỉ có con
chó là không cần làm việc mà cũng sống một cách ung dung không? Ta nuôi gà, là
v́ gà cho ta trứng: ta nuôi ḅ, là v́ ḅ cho ta sữa; mà ta nuôi con hoàng yến
cũng v́ tiếng hót của nó. Nhưng ta nuôi chó chỉ v́ cái lư độc nhất là nó cho ta
cái êm đềm của t́nh thương.
Trong những kỷ niệm êm đềm nhất của tuổi thơ, tôi c̣n nhớ đến con Cún của tôi,
một con chó nhỏ, lông vàng, đuôi cụt mà cha tôi mua cho tôi có năm cắc. Cún chưa
hề đọc một trang sách tâm lư nào hết. Nó không cần đọc. Giáo sư William James,
giáo sư Harry A.Overstreet, không ngài nào dạy được cho nó một chút nghệ thuật
làm đẹp ḷng người. Nhưng nó có phương pháp hoàn toàn để làm mọi người yêu nó:
là chính nó, nó yêu mọi người. Ḷng yêu đó tự nhiên và chân thành tới nỗi tôi
không thể không mến nó được.
Các bạn muốn gây thiện cảm không? Hăy làm như con Cún: Quên ḿnh và thương người.
Con Cún hiểu rằng nếu sốt sắng qua tâm tới người, th́ chỉ trong hai tháng sẽ có
nhiều bạn thân hơn là hai năm kiếm đủ cách làm cho người ta phải quan tâm tới
ḿnh. Tôi phải nhắc lại câu đó:
Nếu các bạn sốt sắng thành thật quan tâm tới người khác th́ chỉ trong hai tháng
sẽ có nhiều bạn thân hơn là hai năm gắng công bắt người khác quan tâm tới các
bạn.
Vậy mà biết bao người một đời lầm lẫn không chừa, không biết định luật đó. Họ
nhất định muốn người khác phải chú ư tới họ. Công dă tràng... Thiên hạ không
nghĩ tới bạn đâu. Họ nghĩ tới họ, sáng, chiều, và tối.
Công ty Điện thoại ở Nữu Ước mới điều tra xem trong khi đàm thoại tiếng nào được
dùng nhiều nhất. Các bạn chắc đă đoán được... Đó là tiếng "Tôi". Trong 500 câu
chuyện th́ người ta dùng nó tới 3.900 lần. "Tôi", "Tôi", "Tôi"...
Khi bạn coi tấm h́nh trong đó có bạn chụp chung với những người khác, th́ người
thứ nhất mà bạn ngó là ai?
Nếu bạn tin rằng mọi người đều chú ư tới bạn, th́ xin bạn trả lời tôi câu này: "Nếu
bạn chẳng may chiều nay từ trần th́ sẽ có bao nhiêu người đi tiễn bạn tới huyệt?".
Tại sao người khác quan tâm tới bạn trong khi bạn không quan tâm tới người ta
trước? Xin bạn cầm cây viết ch́ và trả lời câu hỏi đó trong hàng bỏ trắng dưới
này.
Nếu chúng ta chỉ gắng sức kích động người khác để cho họ chú ư tới ta th́ không
bao giờ có bạn chân thành hết. Đó không phải là cách gây được t́nh tri kỷ.
Alfred Adler, triết gia trứ danh, viết một cuốn sách rất hay đề là "Chân nghĩa
của cuộc đời", trong đó ông nói: ! "Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng
những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà c̣n là người có hại nhất cho
xă hội. Hết thảy những kẻ thất bại đều thuộc hạng người đó". Các bạn có thể đọc
hàng tá những sách về tâm lư mà không kiếm được một lời vừa đúng vừa nhiều nghĩa
như câu đó. Tôi rất ghét nói đi nói lại. Nhưng lời tuyên bố của ông Adler quan
trọng tới nỗi tôi phải chép nó lại lần nữa:
"Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất
trong đời, mà c̣n là người có hại nhất cho xă hội. Hết thảy những kẻ thất bại
đều thuộc hạng người đó".
Đời sống của Hoàng đế Nă Phá Luân, chứng minh lời nói đó. Khi ly dị Hoàng hậu
Joséphine, v́ cớ bà này không thể cho ông người kế tự, ông than thở cùng bà
trước khi chia tay: "Sự phú quí vinh hoa của tôi, trần gian chưa từng thấy. Vậy
mà cho đến giờ này đây, bà là người độc nhất trên đời, tôi có thể tin cậy được".
Nă Phá Luân th́ tin như vậy. Nhưng ai đă từng đọc sử đều buồn mà nhận thấy rằng
ḷng tin đó quá đáng.
Ông Giám đốc tờ báo Collier'S nói: "Muốn cho độc giả thích những truyện ngắn của
bạn th́ bạn phải yêu độc giả đă, phải chú ư tới họ". Chân lư đó đúng khi bạn
viết tiểu thuyết cho độc giả coi. Nó c̣n ba lần đúng hơn nữa, khi bạn trực tiếp
nói chuyện với người khác.
Howard Thurston, ông vua ảo thuật, trong 40 năm trời, đem tài bịt mắt thiên hạ
làm cho cả thế giới ngạc nhiên và thán phục; kiếm được gần hai triệu đồng; một
hôm thú với tôi rằng hồi ông nhỏ, đă phải xa cha mẹ đi lang thang, ăn xin nhà
này tới nhà khác, và nhờ ngó những quảng cáo hai bên đường xe lửa mà biết đọc.
Về nghề ảo thuật, thiếu ǵ người biết nhiều hơn ông, nhưng ông có hai đức tính
mà người khác không có:
Thứ nhất: thấu rơ tâm lư loài người và khi lên sân khấu, ông có sức quyến rũ và
gây hứng. Mỗi cử chỉ của ông, mỗi lần ông chuyển giọng nói, mỗi nét cau mày là
cả một công tŕnh luyện tập. Mà hết thảy công tŕnh đó chỉ có mục đích làm cho
khán giả say mê và th́ giờ chóng qua.
Thứ nh́: ông thành thật chú ư tới khán giả. Những nhà ảo thuật khác ở trên sân
khấu ngó xuống trừng trừng, như có vẻ nói: "Tụi này toàn đồ mắt thịt. Ta sẽ bịp
chúng dễ như chơi". Phương pháp của Thurston khác hẳn. Mỗi lần sắp ra sân khấu,
ông tự nói: "Ta mang ơn những người tới đây coi ta diễn tṛ. Nhờ họ, ta sống
được phong lưu. Vậy ta phải hết sức trổ tài cho họ vừa ḷng". Rồi ông vừa nhủ:
"Tôi yêu khán giả của tôi. Tôi yêu khán giả của tôi", vừa tiến ra ngoài sân
khấu. Bạn cho là "lố bịch", là vô lư ư? Cái đó là quyền của bạn. Nhưng chính đó
là nguyên nhân sự thành công của một trong những nhà ảo thuật danh tiếng nhất từ
xưa tới nay.
Tổng thống Théodore Roosevelt thu được nhân tâm một cách lạ lùng cũng nhờ bí
quyết đó. Cho đến người ở của ông cũng sùng bái ông nữa. Người da đen làm bồi
pḥng cho ông, viết một cuốn sách nói về đời tư ông, trong đó có câu chuyện lư
thú này:
"Một hôm, nhà tôi hỏi Tổng thống về loài chim đa đa mà nó chưa từng thấy bao
giờ. Ngài tả tỉ mỉ loài chim đó cho nó nghe. ít lâu sau, có người kêu điện thoại
nhà tôi chạy lại trả lời. Th́ ra ngài Tổng thống kêu nó, cho nó hay rằng hiện có
một con chim đa đa đậu trong sân cỏ, và nếu nó muốn coi th́ ngó ra sẽ thấy. Chỉ
những việc nhỏ mọn như vậy cũng đủ tả tính t́nh của Ngài và những việc đó, Ngài
rất thường làm.
Mỗi khi Ngài đi dạo gần tới nhà riêng của chúng tôi, dù chúng tôi có đứng khuất
th́ cũng kêu chúng tôi và chào lớn tiếng".
Một ông chủ như vậy, th́ người làm công nào mà không yêu kính? Bất cứ ai mà
không yêu kính?
Một bữa, ông tới Bạch Cung, phải khi Tổng thống Taft và Phu nhân đi vắng, ông
kêu lên từng người đầy tớ cũ và nồng nàn hỏi thăm họ, cả đến những chị phụ bếp
cũng được hân hạnh đó. Khi gặp chị phụ bếp Alice, ông hỏi chị c̣n làm bánh ḿ
bằng bột bắp không. Chị ta đáp c̣n làm, nhưng chỉ có đầy tớ ăn, c̣n trên bàn chủ
không ai dùng tới.
Ông cười lớn: "Tại các ngài không sành ăn. Khi nào gặp Ngài Tổng thống, tôi sẽ
chê Ngài chỗ đó".
Chị đó dâng ông một miếng bánh ḿ bột bắp. Ông vừa đi về pḥng giấy vừa ăn, gặp
người làm vườn nào, người phu nào, ông cũng kêu tên mà chào như hồi ông c̣n làm
Tổng thống. Một người làm công già rưng rưng nước mắt nói rằng, ngày hôm đó là
ngày sung sướng nhất của ông từ hai năm nay. Và đổi ngày đó lấy tấm giấy một
trăm, y cũng không đổi.
Chương hai
Một cách dễ dàng để gây mỹ cảm lúc sơ kiến
Có nhiều bà muốn gây mỹ cảm, tiêu cả một gia tài để đắp vào thân những nhung
cùng vóc, đeo vào ḿnh những vàng cùng ngọc, mà hỡi ơi, quên hẳn cái bộ mặt của
ḿnh đi, bắt nó mang những nét chua ngoa và ích kỷ. Họ quên rằng đối với đàn
ông, nét mặt nụ cười quan trọng hơn tơ lụa khoác lên ḿnh. (Nhân tiện, xin nhắc
bạn, ví như bà nhà đ̣i may một cái áo nhung, th́ xin chớ trả lời bà bằng câu đó
nhé!).
Charles Schwab mà trên kia tôi đă kể chuyện, nói rằng nụ cười của ông ta đáng
giá một triệu đồng. Số đó c̣n dưới sự thực, v́ tất cả sự thành công lạ lùng của
ông đều nhờ tâm tính ông, duyên kín của ông. Mà chính nụ cười quyến rũ của ông
lại là khả năng khả ái nhất.
Một buổi tối, tôi được tiếp Maurice Chevalier, danh ca của thế giới. Thú thực là
tôi thất vọng. Tôi không ngờ ông ủ rũ, lầm lỳ như vậy, khác hẳn với trí tôi
tưởng tượng. Nhưng, bỗng nhiên, ông ta mỉm cười. Rơ ràng là một tia nắng xuyên
qua mây mù. Không có nụ cười đó, Maurice Chevalier có lẽ c̣n đóng bàn ghế ở
Paris như ông thân và anh em ông.
Mỉm cười với ai, tức như nói với người đó: "Tôi mến ông... Được gặp ông, tôi vui
vẻ lắm... tôi sung sướng lắm...".
Lẽ cố nhiên, nụ cười đó phải chân thật, tự đáy ḷng phát ra mới quyến rũ, uỷ lại
được người, c̣n thử nụ cười nhích mép nở ngoài môi, như do một bộ máy phát ra,
không lừa được ai hết, chỉ làm cho người ta ghét thôi. Ông chỉ huy nhân viên một
cửa hàng lớn ở Nữu Ước nói rằng ông ưa mướn một cô bán hàng học lực sơ đẳng mà
nụ cười có duyên hơn là một cô cử nhân văn chương mà mặt lạnh như băng.
Tại sao ta thương loài chó? Tại chúng tung tăng, vui mừng đón rước ta, làm cho
ta vui ḷng khi thấy chúng.
Nếu không thấy hứng thú khi làm một việc th́ không thể làm nên việc đó.
Đă từng có người bắt tay vào việc làm với một ḷng hoan hỉ vô biên và v́ vậy mà
thành công. Nhưng lâu dần quen nghề, ḷng hoan hỉ tiêu tan. Người đó chỉ c̣n làm
đủ bổn phận thôi. Rồi tới chán nản. Rồi tới thất bại.
Trong xă giao cũng vậy. Phải hoan hỉ giao du với người th́ mới mong người hứng
thú giao du với ḿnh.
Tôi đă khuyên cả ngàn thương gia như vầy:
"Các ông luôn trong một tuần lễ, lúc nào cũng mỉm cười, gặp ai cũng mỉm cười...
rồi các ông lại đây cho tôi biết kết quả ra sao".
Th́ đây kết quả như vầy:
Ông Steinhardt viết thư cho tôi kể:
"Tôi có vợ 18 năm rồi, và trong thời gian đó ít khi tôi mỉm cười với nhà tôi. Từ
sáng dậy tới khi đi làm, tôi ít khi nói với nhà tôi quá 12 tiếng. Trong châu
thành Nữu ước này, tôi vào hạng người càu nhàu khó chịu nhất.
Nghe lời ông khuyên, tôi thí nghiệm "tuần lễ mỉm cười" và ngay sáng hôm sau, khi
rửa mặt, ngó trong gương, tôi tự nhủ phải bỏ cái bộ mặt đưa ma đó đi và quyết
chí mỉm cười.
Khi ngồi bàn ăn sáng, tôi hớn hở chào nhà tôi. Nhà tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi
giữ luôn như vậy trong hai tháng nay và đă t́m thấy được nhiều hạnh phúc trong
gia đ́nh tôi, hơn cả một năm vừa qua.
Bây giờ, gặp người coi thang máy, người giữ cửa, người bán giấy xe, gặp ai tôi
cũng chào hoặc mỉm cười. Tôi không chỉ trích ai, chê ai hết, tôi khuyến khích và
khen ngợi. Tôi không nói chuyện tôi cho người khác nghe nữa và ráng hiểu những
nỗi ḷng của người khác. Tôi biến thành một người mới, sung sướng, có ḷng từ
thiện và được mọi người thương. Hỏi c̣n có phần thưởng nào quư hơn nữa không?".
Xin bạn nhớ rằng người viết bức thư đó làm trọng măi (mua bán chứng khoán) ở thị
trường chứng khoán Nữu Ước một nghề khó tới nỗi 100 người th́ có 99 người thất
bại.
Franklin Bettger, một biện sư khéo léo nhất trong nghề bảo hiểm nói với tôi: "Từ
lâu, tôi đă hiểu rằng với nụ cười, đi đâu ta cũng được tiếp đón niềm nở hết. Cho
nên trước khi vô nhà một thân chủ nào, tôi dừng lại một chút, nghĩ tới tất cả
những sung sướng mà trời đă cho tôi. ư nghĩ đó tự nhiên làm nở nụ cười trên môi
tôi... và tôi gơ cửa, tươi tỉnh như đóa hoa. Một phần lớn, nhờ có thuật đó mà
tôi thành công".
Là v́, giáo sư William James nói: "Hành động cơ hồ theo sau tư tưởng, nhưng sự
thực th́ cả hai đồng thời phát động. Dùng nghị lực để điều khiển hành động tức
là điều khiển những t́nh cảm một cách gián tiếp...".
Vậy khi mất cái vui rồi, muốn kiếm nó lại th́ không cách nào bằng hành động như
nó đă trở về với ta rồi... Hạnh phúc của ta không do ngoại vật đem tới mà tự tâm
ta phát khởi. Hai người cùng ở một chỗ, cùng làm một nghề, gia sản ngang nhau,
địa vị trong xă hội bằng nhau mà một người sướng, một người khổ, là v́ đâu? V́
tâm trạng họ khác nhau. Trong số người làm công Trung Hoa, vất vả dưới ánh nắng
thiêu người, đổi chén mồ hôi lấy 7 xu mỗi ngày, tôi đă từng thấy nhiều nét mặt
vui tươi, như trên mặt các phú ông ở Nữu Ước.
Shakespeare (một thi hào nước Anh) nói: "Không có chi tốt mà cũng chẳng có chi
xấu; xấu tốt đều do tưởng tượng mà ra cả".
Abraham Lincoln nghiệm rằng phần nhiều người ta biết an phận mà được sung sướng.
Ông nói có lư và tôi đă có dịp nhận rơ sự thực đó:
Một hôm tôi gặp ở Nữu Ước 30 đứa nhỏ tàn tật, chống gậy hay nạng, lết bết leo
lên những bực của một nhà ga lớn. Có đứa phải cơng mới lên nổi. Tôi ngạc nhiên
nghe chúng vui cười gịn giă. Một người coi sóc chúng giảng cho tôi: "Khi một em
đó hiểu rằng ḿnh sẽ tàn tật suốt đời, th́ mới đầu như rụng rời, rồi b́nh tĩnh
lại, cam ḷng với định mạng, rồi cảm thấy sung sướng hơn những đứa trẻ mạnh".
Tôi kính phục những em nhỏ đó. Các em đă cho tôi một bài học mà tôi sẽ ghi nhớ
suốt đời.
Xin các bạn đọc - và nhớ thi hành, v́ đọc suông không có kết quả - những lời
khuyên chí lư sau này của giáo sư Elbert Hubbard:
"ở nhà ra, bạn ngửng đầu lên, đưa cằm ra; hít đầy phổi không khí và ánh sáng mặt
trời; mỉm cười với mọi người và thân ái siết tay người quen biết. Đừng mất th́
giờ nghĩ tới kẻ thù của bạn. Ráng vạch rơ trong đầu mục đích bạn muốn đạt và
thẳng tiến tới lư tưởng đó. Một khi bạn đă định kỹ những hành vi đẹp đẽ, cao cả,
bạn muốn làm th́ tự nhiên ngày tháng sẽ đưa cơ hội thuận tiện tới lần lần cho
bạn thực hiện được ư bạn...".
Bạn hăy in sâu vào óc h́nh dung nhân vật có tài năng, trung tin và hữu ích mà
bạn muốn trở nên rồi mỗi giờ trôi qua, sức tưởng tượng sẽ lần lần thay đổi bạn
cho tới khi thành hẳn nhân vật đó...
Mănh lực của tư tưởng thật tối cao. Bạn hăy nuôi lấy một tâm trạng quân tử: can
đảm, trung chính và vui vẻ. V́ tư tưởng đẹp th́ hành vi rất đẹp. Đă ham muốn tất
cả phải thành công và lời cầu nguyện nào chân thành cũng được chuẩn hứa. Lư
tưởng ủ ấp trong ḷng sẽ cấu tạo nên những hành vi hợp với lư tưởng. Ngửng đầu
lên, bạn, v́ nếu trong mỗi cái kén có một con bướm chưa nở, th́ trong tâm mỗi ta
có một điểm phật, chỉ đợi dịp phát huy.
Người Trung Hoa thiệt khôn. Câu phương ngôn này của họ phải được dán trong nón
chúng ta đội: "Người nào không biết mỉm cười, đừng nên mở tiệm". Và khi bàn tới
điều kiện mở tiệm, ông Fletcher đă phát ra những tư tưởng này:
Giá trị của nụ cười:
1- Một nụ cười chẳng mất vốn, mà lợi thật nhiều.
2- Một nụ cười không làm nghèo người phát nó nhưng làm giàu người nhận nó.
3- Một nụ cười chỉ nở trong khoảnh khắc, nhưng có khi làm cho ta nhớ tới suốt
đời.
4- Kẻ phú quí tới bực nào mà không có nó th́ cũng vẫn c̣n nghèo; c̣n kẻ nghèo
hèn tới đâu, mà sẵn có nó th́ vẫn c̣n cái vốn vô tận.
5- Nụ cười gây hạnh phúc trong gia đ́nh, nó là nguồn gốc những hảo ư trong
thương nghiệp và là dấu hiệu của t́nh bè bạn.
6- Nó bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, nó là h́nh ảnh b́nh minh cho kẻ ngă ḷng, là nắng
xuân cho kẻ buồn rầu, và là thuốc mầu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu.
7- Nụ cười không thể mua được, không thể xin như khất thực được, không mượn được
mà cũng không thể ăn cắp được. V́ ta khư khư giữ nó th́ nó chẳng có giá trị ǵ,
nhưng nếu ta dùng nó một cách hào phóng th́ giá trị nó vô cùng.
8- Cho nên khi bạn gặp một người mệt nhọc, không c̣n sức tươi cười với bạn được,
th́ bạn hăy mỉm cười với người đó đi. V́ người nào không c̣n lấy một nụ cười để
tặng kẻ khác, người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết...
Vậy nếu bạn muốn được thương mến, xin nhớ quy tắc thứ hai này:
"Giữ nụ cười trên môi"
Chương ba
Không theo quy tắc sau này tức là tự rước lấy thất bại
Năm 1898, Joe Farley chết một cách bất ngờ, để lại vợ góa và ba con côi với vài
trăm đồng bạc vốn.
Đứa lớn nhất tên Jim, mười tuổi, phải giúp việc trong một ḷ gạch: đẩy xe cát,
đổ cát vào khuôn, phơi gạch. Không có th́ giờ học, nhưng có một thiên tài trời
cho riêng dân ái Nhĩ Lan là bẩm sinh đă biết nghệ thuật làm cho người khác
thương ḿnh. Lớn lên, ông làm chính trị, tập nhớ tên họ và vẻ mặt của người
khác, mà lần lần trí nhớ đó trở nên kỳ diệu.
Không hề ṭng học một trường đại học nào hết, mà chưa đầy bốn mươi sáu tuổi, có
tới bốn trường đại học cấp bằng danh dự cho ông, lại làm Hội trưởng ủy ban dân
chủ quốc gia, và Tổng giám đốc sở Bưu điện.
Một lần được ông tiếp, tôi hỏi ông bí quyết của sự thành công đó. Ông đáp: "Nai
lưng ra mà làm việc". Tôi căi: "Đừng nói chơi mà!".
Ông hỏi lại tôi: "Vậy theo ông, bí quyết đó ở đâu?" Tôi đáp: "Người ta nói rằng
ông có thể gọi tên được mười ngàn người".
Ông căi:
- Xin lỗi ông, ông lầm. Tôi có thể gọi tên năm chục ngàn người.
Nhờ trí nhớ kinh dị đó mà Jim Farley đi cổ động đắc lực cho ông Franklin
D.Roosevelt được quốc dân bầu làm tổng thống.
Phương pháp ông giản dị lắm. Mỗi lần ông mới làm quen với ai, ông hỏi tên họ
người đó và cách viết ra sao. Ông t́m cách biết rơ về gia đ́nh, nghề nghiệp, màu
sắc chính trị người đó, ghi nhớ lấy rồi, lần sau gặp lại, - dù là cách một năm
đi nữa - ông cũng có thể vỗ vai người đó mà hỏi thăm về vợ, con, cả đến những
cây trồng trong vườn người đó nữa!
Vậy th́ tới đâu ông cũng có bạn thân, có ǵ là lạ?
Mấy tháng trước cuộc bầu cư Tổng thống Roosevelt, Jim Farley viết mỗi ngày cả
trăm bức thư cho dân miền Bắc và miền Tây. Rồi ông đi trong mười chín ngày, khắp
hai chục xứ, trên ba chục ngàn cây số. Đi xe lửa, xe ngựa, xe hơi, tàu thủy. Tới
mỗi tỉnh, ông đăi các cử tri một bữa cơm trưa hay cơm tối, đem hết tâm can mà
bày tỏ thiệt hơn với họ, đoạn chạy biến qua tỉnh khác.
Trở về nhà, ông viết ngay thư cho một người ông quen nhất trong đám cử tri ông
mới đăi tiệc và xin cho biết tên những người đă có mặt hôm ông đăi tiệc cổ động.
Thành thử ông có một cuốn sổ ghi hàng ngàn tên những người ấy. Rồi mỗi cử tri đó
đều ngạc nhiên nhận được của ông một bức thư đề: "Bạn Bill thân mến". "Bạn Joe
thân mến..." và kư tên: "Jim".
Jim Farley hiểu rằng hạng trung nhân đều thấy tên ḿnh êm ái hơn hết thảy những
tên khác. Nhớ được tên đó, đọc nó được một cách dễ dàng, tức là khen người đó
một cách kín đáo và khôn khéo. C̣n nếu quên hoặc viết sai tên đó tức là làm cho
người ta khó chịu. Riêng tôi, tôi cho rằng người ta vô lễ với tôi, nếu trên bao
thư gởi cho tôi người ta đă biên sai tên tôi.
Những kỹ thuật gia giúp việc ông Andrew Carnegie biết rơ giả kim thuật hơn ông
nhiều. Vậy tại sao ông vua thép đó thành công? Là v́ ông biết dẫn đạo người.
Ngay từ hồi ít tuổi, ông đă có tài tổ chức, thấu tâm lư và chỉ huy. Mới mười
tuổi ông thấy rằng ai cũng cho tên họ của ḿnh là vô cùng quan trọng. Một hôm,
ông bắt được một con thỏ cái mới sanh được một bầy thỏ con. Mà không có chi nuôi
chúng hết. Ông bèn dụ tụi bạn trẻ như vầy: "Nếu chúng bây chịu kiếm lá cây nuôi
bầy thỏ th́ ta sẽ lấy tên mỗi đứa đặt tên cho một con thỏ". Kết quả thần diệu.
Và ông không bao giờ quên chuyện đó hết.
Nhiều năm sau, ông lại dùng thuật đó. Ông lấy tên của hội trưởng một công ty xe
lửa để đặt tên cho một xưởng lớn của ông và nhờ vậy mà công ty xe lửa đó thành
khách hàng mua đường rầy của ông!
Khi George Pullman và Carnegie tranh nhau độc quyền chế tạo những toa xe lửa có
giường ngủ cho một công ty hỏa xa nọ, hai bên chỉ trích lẫn nhau, đua nhau hạ
giá, thành thử đều không lời. Nhưng Carnegie nhớ ngay bài học con thỏ. Một hôm
gặp Pullman, ông chào: "Chào ông Pullman, ông có tin rằng hai đứa ḿnh đều điên
hết không?".
Ông kia hỏi lại: - Ông muốn nói chi?
Carnegie bèn đề xướng với Pullman hợp hai công ty lại làm một, dùng những lời
quyến rũ vạch rơ những lợi chung của sự kết liên đó. Pullman chú ư nghe, nhưng
chưa tin hẳn. Sau cùng, ông hỏi: "Công ty mới đó sẽ đặt tên chi?". Carnegie tức
khắc trả lời: "Th́ đặt là Công ty Pullman tất nhiên rồi".
Hiệu quả tức th́. Nét mặt ông Pullman tươi hẳn lên, rồi ông mời: "Ông vô pḥng
tôi. Chúng ta sẽ bàn thêm...".
Cuộc thương lượng đó đưa tới một khế ước, nó thay đổi cục diện kỹ nghệ thiết lộ
ở Mỹ.
Cái tài nhớ được và kính trọng tên bạn, và tên những người cộng sự của ông, là
một trong những bí quyết đă làm cho ông nổi danh; ông tự phụ rằng nhớ được tên
họ một số đông thợ của ông, và khoe rằng ông c̣n đích thân chỉ huy xí nghiệp của
ông ngày nào, th́ không có những vụ làm reo khuấy rối sự yên ổn và cần mẫn trong
các xưởng ông ngày đó.
C̣n ông Paderewsky, một nhạc sĩ dương cầm nổi danh, rất được ḷng người bếp da
đen hầu ông trong toa xe lửa riêng của ông. Mỗi lần ông đi biểu diễn tài nghệ
về, người bếp đó luôn luôn đích thân dâng ông một món ăn đêm mà ư nấu riêng để
ông dùng. Tại sao y quư ông như vậy? Tại ông theo lễ phép châu Âu, với một giọng
trịnh trọng gọi người đó bằng: "Ông Copper", chớ không kêu xách mé theo kiểu Mỹ.
Và "ông Copper" thích được gọi như vậy lắm.
Loài người cho tên ḿnh là vinh dự lắm - Cho nên t́m đủ cách truyền nó lại đời
sau.
Như ông Barnum là người keo bẩn có tiếng, chỉ v́ không con nối dơi, mà dám bỏ ra
hai muôn rưỡi mỹ kim cho thằng cháu ngoại để y chịu theo họ ông.
Hai trăm năm trước, những người giàu có thường biếu tiền cho các văn sĩ để được
thấy tên ḿnh trên chỗ đề tặng của tác giả.
Những thư viện, viện bảo tàng sở dĩ sưu tập được nhiều sách, đồ quư là nhờ những
phú gia biếu đồ hoặc quyên tiền và lưu danh lại sau này. Nhà thờ, đền chùa cũng
vậy: những người bỏ những số tiền lớn ra đục tượng, tô chuông là những ai?
Sở dĩ chúng ta quên tên người, phần nhiều là v́ chúng ta không chịu mất công,
mất th́ giờ chép lại, lặp lại cho nó in vào trong đầu óc chúng ta. Chúng ta tự
bào chữa rằng như vậy lâu quá, mà công việc ta bề bộn quá.
Nhưng chắc không có ai bận việc bằng Tổng thống Franklin D.Roosevelt. Vậy mà ông
có cách nhớ được cả tên, những người thợ máy ông đă gặp.
Hăng Chrysler đóng một chiếc xe hơi riêng cho Tổng thống F.D.Roosevelt, rồi cho
kỹ sư W.F.Chamberlain với một người thợ máy lại Bạch Cung giao xe cho Tổng
thống.
Ông Chamberlain tới, được Tổng thống tiếp đăi niềm nở vui vẻ lắm, gọi tên và
chào hỏi, tỏ rằng được ông Chamberlain tới chỉ những bộ phận xe cho ông, ông
hoan hỉ vô cùng. Ông ngắm nghía từng bộ phận nhỏ một, từ nệm ngồi cho tới cái
khóa cửa, tới thùng xe, nhất là những chi tiết nào do ông Chamberlain sáng tạo
cho tiện lợi, th́ ông cứ muốn ghi nhớ lấy và chỉ cho bà Tổng thống, cho nữ Bộ
trưởng lao động Perkins và cô thư kư riêng của ông. Rồi ông khen không ngớt
miệng: "Thiệt tuyệt; chỉ cần ấn cái nút là xe chạy, chẳng khó nhọc chút chi hết.
Đẹp quá... tôi muốn có th́ giờ tháo bộ máy ra xem xét nó chạy ra sao".
Khi ông Chamberlain chỉ cho ông xong rồi, Tổng thống quay lại nói: "Ông
Chamberlain, Hội đồng Ngân hàng liên bang đang đợi tôi từ nửa giờ rồi; xin kiếu
ông, tôi phải đi mới được...".
Lúc ông Chamberlain tới, có giới thiệu cho Tổng thống người thợ máy đi theo ông.
Anh này nhút nhát, đứng xa xa, không nói nửa lời, mà tên của anh trước sau chỉ
nhắc tới có một lần, vậy mà trước khi từ giă, Tổng thống đưa mắt kiếm anh ta,
bắt tay anh ta, gọi tên anh ta và cám ơn đă mất công tới. Những lời đó không
phải thốt ra như cái máy đâu, mà trái lại, có một giọng yêu mến thật thà.
ít ngày sau, ông Chamberlain nhận được tấm h́nh với chữ kư của Tổng thống gởi
biếu và mấy lời cám ơn một lần nữa. Thiệt không sao hiểu được ông kiếm đâu đủ
th́ giờ để làm công việc gây cảm t́nh đó.
Franklin D.Roosevelt biết rằng một trong những cách chắc chắn dễ dàng và công
hiệu nhất để làm cho một người vui ḷng và nhớ tên họ người ấy và tỏ cho họ thấy
rằng họ quan trọng. Tổng thống Roosevelt c̣n làm như vậy, c̣n phần đông chúng
ta, ra sao? Chúng ta khi được giới thiệu với một người lạ nói chuyện với họ một
lát, rồi khi từ biệt không nhớ tên người ta để mà chào nữa.
Một nhà chính trị trước nhất phải nhớ tên những cử tri. Như vậy mới có danh và
có quyền được. Nếu không th́ bị thiên hạ bỏ quên. Trong thương măi và xă giao,
sự nhớ tên người cũng quan hệ không kém ǵ trong chính trị.
Hoàng đế Nă Phá Luân đệ tam khoe rằng dù việc nước bề bộn mà ông vẫn có thể nhớ
tên mỗi người ông đă gặp. Phương pháp ông giản dị lắm. Khi ông nghe không rơ một
tên nào, ông nói: "Xin lỗi, tôi chưa nghe rơ". Nếu tên hơi lạ, ông bảo người ta
đánh vần cho ông nhớ. Rồi trong khi nói chuyện với người đó, ông t́m cách nói
tên người đó vài ba lần và ráng ghi trong trí nhớ h́nh dáng, vẻ mặt người đó để
khi thấy người th́ liên tưởng ngay tới tên được.
Nếu là một nhân vật rất quan trọng, ông viết ngay tên nhân vật đó trên một miếng
giấy, ngó kỹ nó, tập trung tư tưởng vào nó, cho nó khắc sâu trong óc. Như vậy,
ông vừa dùng tai và mắt để nhớ. Tất cả những cái đó mất th́ giờ lắm. Nhưng,
Emerson nói, "lễ phép tức là phải chịu nhiều hy sinh nhỏ".
Vậy, muốn gây thiện cảm, xin bạn để ư tới quy tắc thứ ba này:
"Phải nhớ rằng tên một người đối với người đó là một âm thanh quan trọng và êm
tai hơn hết thảy những âm thanh khác".
Chuong 4
Bạn muốn thành một người nói chuyện có duyên không? Dễ lắm
Mới rồi, sau một tiệc rượu, chủ nhà mời tôi đánh bài. Tôi không biết chơi mà bà
ngồi bên cạnh tôi cũng vậy. Chúng tôi nói chuyện với nhau.
Bà ấy biết rằng hồi trước tôi có việc phải ở bên châu Âu năm năm.
Bà nói: "Ông Carnegie, tôi ước ao được ông tả cho tôi nghe những thắng cảnh bên
đó".
Khi chúng tôi lại ngồi trên một chiếc ghế dài, bà ta cho hay rằng mới ở châu Phi
về với chồng bà. Tôi nói: "Châu Phi có nhiều cái thú lắm. Tôi vẫn mong mỏi từ
lâu được dịp qua đó, mà chỉ đi một lần tới Alger rồi trở về. Tôi ở Alger được
đúng hai mươi bốn giờ đồng hồ... ở bên đó, ông bà có săn thú rừng không?... Có?
Ông bà thiệt gặp may tôi muốn được như ông bà lắm. Xin bà kể cho tôi nghe".
Bà ta diễn thuyết trong bốn mươi lăm phút, không nhớ ǵ tới những thắng cảnh bên
Âu nữa. Bà chỉ muốn gặp được người chăm chú nghe bà, để bà có cái vui được dịp
nói tới bà và những kỷ niệm của bà.
Bà đó kỳ dị không? Thưa không! Vô số người cũng như bà. Tất cả chúng ta đều muốn
diễn thuyết khi có người chăm chú nghe ta.
Trong một bữa cơm tối, nhà một người bạn làm nghề xuất bản, tôi được gặp một nhà
thực vật học có danh. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được gặp một nhà thực vật
học và ông ấy nói chuyện nghe muốn mê. Tôi xích lại gần ông, nghe ông diễn giải
về các loài cây cỏ và những chi tiết lạ lùng về một cây rất tầm thường là khoai
tây... Ông khuyên tôi nhiều điều rất quư về cách giữ ǵn khu vườn nhỏ của tôi.
Trong bữa tiệc đó, có mười hai ông khách nữa mà tôi như không biết có ai hết:
tôi phạm hết thảy những điều mà thường thức về xă giao để nghe trong mấy giờ
đồng hồ nhà thực vật học của tôi.
Tới nửa đêm tôi xin phép ra về. Sau này có người cho hay rằng, tôi vừa ra khỏi
pḥng, nhà thông thái đó quay lại nói với ông chủ nhà, khen tôi thế này, thế
khác và cho rằng câu chuyện tôi rất hứng thú và tôi là một người ăn nói rất có
duyên.
Tôi mà nói chuyện có duyên ư? Nhưng hôm đó tôi có thốt ra nửa lời nào đâu?
Giả thử tôi có nói, th́ câu chuyện đă quay ra một vấn đề khác rồi; v́ về khoa
thảo mộc học, tôi hoàn toàn không biết chút chi hết. Tôi chỉ mê mẩn nghe thôi.
V́ những điều ông giảng giải khích thích tôi nhiều lắm. Ông ấy thấy rơ như vậy
và điều đó làm cho ông vui là lẽ tự nhiên. Chăm chú nghe một người khác, khác ǵ
nhiệt liệt khen họ. Một văn sĩ nói: "Say mê nghe lời nói của một người, tức là
tôn kính người đó, mà rất ít người không cảm động trước sự tôn kính đó". Hôm ấy
tôi không những chỉ say mê nghe mà thôi, c̣n tỏ với ông ấy một tấm ḷng quư mến
và ngưỡng mộ chân thành nữa. Tôi nói với ông rằng ông đă chỉ bảo với tôi rất
nhiều, và tôi nghe nói mà mê. Đó là sự thực. Tôi lại nói rằng: nếu được lang
thang trong một cánh đồng với ông th́ thú vô cùng. Cái đó cũng là sự thực nữa.
Tôi ngỏ ư muốn được tái ngộ ông và thiệt t́nh tôi bây giờ rất muốn được gặp ông
lần nữa.
Đó, chỉ v́ vậy mà ông khen tôi là nói chuyện khéo, sự thiệt tôi chỉ là một thính
giả kiểu mẫu và biết cổ vũ ông nói thôi.
Làm sao cho khách hàng có thiện cảm với ta, vui vẻ nghe ta, tin ta và theo ư ta?
Theo giáo sư C.W.Eliot th́ không khó chi hết. Trước hết ta phải đặc biệt chăm
chú nghe họ. Không có chi làm đẹp ḷng họ bằng.
Điều đó dễ hiểu quá mà! Không cần phải theo học bốn năm tại Harvard để t́m thấy
chân lư đó. Vậy mà tôi thấy và các bạn cũng thấy có những nhà buôn không ngần
ngại mướn những cửa hàng xa hoa, chú trọng về sự buôn hàng với cái giá hời nhất
để có thể bán rẻ, mà vẫn lời, cửa hàng họ trưng bày lộng lẫy, họ tiêu hàng trăm
đồng vào công cuộc quảng cáo, mà rồi rốt cuộc, mướn những người làm công không
biết nghệ thuật "nghe", ngắt lời khách hàng, căi lại họ, làm mất ḷng họ, như
vậy có khác ǵ đuổi họ ra khỏi cửa hàng không?
Xin các bạn nghe chuyện ông J.C. Wooton, một người học tṛ của tôi. Ông ấy mua
một bộ đồ tại một tiệm lớn nọ. Về nhà bận ít bữa ông bực ḿnh v́ thấy màu áo
thôi ra và làm đen cổ áo sơ-mi.
Ông đem bộ đồ đó lại tiệm, phàn nàn với người làm công đă bán bộ đồ đó cho ông.
Cũng không phải để phàn nàn nữa, mà để giảng giải cho người bán hàng nghe, nhưng
người này chưa nghe, đă ngắt ngay lời: "Chúng tôi đă bán cả ngàn bộ đồ thứ đó,
mà chưa hề có ai kêu nài chi hết".
Lời th́ như vậy, nhưng giọng c̣n tệ hơn nữa. Giọng hung hăng như muốn bảo: "Chú
nói dối, chú ơi! Tôi đi guốc trong bụng chú rồi!".
Nghe thấy chúng tôi căi cọ nhau, một người bán hàng khác chạy lại, chêm vào: Bộ
đồ màu đen nào, lúc mới đầu cũng hơi thôi ra như vậy, không thể tránh được...
Nhất là những bộ đồ giá đó. Tại nước nhuộm như vậy".
"Tôi giận sôi lên, ông Wooton nói, người bán hàng thứ nhất có ư cho tôi dối dá;
người thứ nh́ muốn chê tôi đă mua đồ xấu, rẻ tiền. Tôi nổi điên, muốn liệng bộ
đồ vào đầu họ, th́ th́nh ĺnh, người chủ gian hàng tới. Người này thiệt thạo
nghề, ông làm cho một khách hàng đương thịnh nộ hóa ra hài ḷng.
Ông làm ra sao?
Trước hết: ông nghe câu chuyện của tôi từ đầu chí cuối, không nói nửa lời.
Sau: khi tôi ngừng nói, hai người bán hàng kia bày lư lẽ của họ ra th́ ông bênh
tôi mà bẻ lư lẽ của họ. Không những ông công nhận rằng quả áo ngoài đă thôi và
làm đen cổ áo sơ-mi tôi mà ông c̣n nhắc lại rằng bất kỳ món hàng nào bán ở tiệm
đó, cũng phải làm cho khách hàng về nhà hoàn toàn vừa ư.
Sau hết: ông nhận rằng không biết tại sao nó lại thôi ra như vậy, và ông thẳng
thắn nói với tôi: "Xin ông cho biết chúng tôi phải làm sao, và chúng tôi sẽ tuân
lệnh ông".
Năm phút trước, chắc là tôi đă la lên: "Ông giữ lấy bộ đồ quư hóa đó của ông".
Nhưng bây giờ tôi trả lời: tôi "chỉ muốn hỏi ư ông thôi; tôi muốn biết sau này
nó c̣n thôi nữa không và làm sao cho nó khỏi thôi".
Ông ta khuyên tôi mang về bận thử một tuần nữa. Nếu lúc đó không vừa ḷng th́ sẽ
mang lại đổi. Và ông ta lấy làm ân hận v́ sự đó lắm.
Tôi trở về, tươi tỉnh. Một tuần sau, áo đó quả nhiên hết thôi, và từ đó tôi hoàn
toàn tín nhiệm cửa hàng đó".
Người đó được làm chủ gian hàng có chi lạ? Hai người bán hàng kia sẽ làm phụ
suốt đời... Có lẽ c̣n đổi họ xuống gói hay khuân đồ nữa là khác, để họ hết tiếp
xúc với khách hàng.
Nhiều khi muốn cho một người mắc bệnh càu nhàu kinh niên nguôi cơn giận chỉ cần
có một người kiên tâm hiểu họ, chịu làm thinh nghe họ, để họ mặc t́nh phùng
mang, trợn mắt như con rắn hổ, phun ra ngoài cái nọc độc nó làm cho họ đương
nghẹt thở.
Bạn muốn thành một người nói chuyện có duyên không? Dễ lắm
Vài năm trước, Công ty Điện thoại Nữu Ước có một thân chủ gắt gỏng, khó tính,
trần gian có một. Y làm đủ t́nh, đủ tội, dọa đập máy điện thoại, không chịu trả
tiền y thiếu, cho rằng công ty tính lộn, kêu nài trên mặt báo năm bảy phen, đầu
đơn kiện ở ṭa và tại ủy ban các công sở. Sau cùng, muốn cho yên chuyện, công ty
phái một sứ giả khôn lanh nhất lại thăm con "ác là" đó. Sứ giả b́nh tĩnh nghe
ông tướng quạu đó, để mặc ông tuôn ra những lời cay đắng ra cho hả ḷng, và chỉ
gật đầu tán thành và "mô phật".
Nghe ông ta tuôn ra trong ba giờ đồng hồ rồi về. Lần sau trở lại nghe ông ta
tiếp tục cuộc diễn thuyết giông tố của ông. Bốn phen như vậy. Lần thứ tư, trước
khi về nhà sứ giả đă nghiễm nhiên thành một Hội viên danh dự trong "Hội bảo trợ
những người dùng điện thoại", mà ông đó mới sáng lập. Hồi đó, cho măi tới bây
giờ cũng vẫn vỏn vẹn có hai người đó làm hội viên thôi.
Nhà sứ giả chỉ việc chú ư nghe và kết quả là ông tướng quạu đó thành ra thuần
hậu, chịu trả hết số tiền đă thiếu công ty và chịu rút đơn không kiện công ty
nữa. Thiệt chưa từng thấy ông ta dễ dăi với công ty như vậy bao giờ.
Tại sao vậy? Là v́ ông kêu nài, phản kháng để tỏ cái quan trọng của ông ra, khi
người thay mặt cho công ty chịu nhận thấy sự quan trọng đó, th́ những nỗi bất
b́nh tưởng tượng của ông tan như mây khói hết.
Nhiều năm trước, một khách hàng giận dữ bước vào văn pḥng ông J.F. Detmer, nhà
sáng tạo xưởng dệt Detmer lớn nhất thế giới.
Người đó rơ ràng thiếu của xí nghiệp Detmer mười lăm mỹ kim, viết thư đ̣i nhiều
lần mà không chịu trả, hôm đó đi xe lửa từ nhà lại hăng, nói không những không
trả tiền mà từ rày không thèm mua hàng ở hăng nữa.
Ông Detmer sẵn sàng kiên tâm nghe, khi người đó đă trút hết cơn lôi đ́nh, b́nh
tĩnh lại rồi, cơ hội thuận tiện, ông Detmer mới ôn tồn nói: "Tôi cám ơn ông đă
lại tận đây để cho tôi hay những điều đó. Như vậy ông đă giúp tôi được một việc
lớn lắm; v́ nếu pḥng kế toán của chúng tôi đă làm cho ông bất b́nh th́ chắc có
nhiều khách hàng dễ dăi cũng bất b́nh nữa. Và điều đó chúng tôi tất nhiên là
muốn tránh. Xin ông tin tôi, ông nóng lại phân trần với tôi một, th́ tôi nóng
muốn biết những nỗi bất b́nh của ông tới hai kia".
"Ông ta chắc là tuyệt nhiên không ngờ tôi trả lời như vậy - ông Detmer kể lại. -
Tôi tưởng ông ấy hơi cụt hứng v́ ông ta từ xa lại cốt ư là để "xài" tôi cho
hả... Thế mà đáng lẽ gây với ông ấy, tôi lại cám ơn ông! Tôi hứa với ông xóa nó
đi v́ "một người ngăn nắp như ông, tính toán mỗi một cuốn sổ tất là ít lẫn lộn
hơn các viên kế toán của tôi phải tính toán sổ của cả ngàn khách hàng".
"Tôi lại thêm rằng, tôi hiểu ḷng ông ấy lắm và ở địa vị ông ta, có lẽ cũng hành
động như ông. Rồi tôi lại giới thiệu với ông ấy vài nhà bán len khác v́ ông ấy
không muốn mua giúp tôi nữa".
"Hồi trước, mỗi lần ông ấy ra tỉnh tôi thường mời ông dùng bữa trưa với tôi. Lần
này tôi cũng mời, ông ta bất đắc dĩ nhận lời... Nhưng tới chiều, khi cùng với
tôi trở lại pḥng giấy của tôi, ông đặt mua cho tôi một số hàng lớn nhất từ
trước đến giờ. Ông về nhà b́nh tĩnh hơn và muốn tỏ ra công bằng với chúng tôi,
cũng như chúng tôi đă công bằng với ông, ông lục giấy tờ của ông ra, kiếm thấy
toa hàng đă thất lạc và gởi trả chúng tôi mười lăm mỹ kim với vài lời xin lỗi.
"Sau này, khi con trai ông ta sinh; ông lấy tên Detmer của tôi đặt tên đệm cho
con ông và ông c̣n là bạn thân và khách hàng của chúng tôi cho tới khi ông từ
trần hai mươi hai năm sau".
Đă lâu rồi, một cậu bé Ḥa Lan tới di trú nước Mỹ. Cha mẹ cậu nghèo lắm. Tan giờ
học, cậu phải kiếm tiền bằng cách lau cửa kính một tiệm bánh ḿ và lượm những
cục than vụn mà những xe chở than để rớt trên đường. Tên cậu là Edward Bok. Suốt
thiếu thời, cậu đi học cả thảy có sáu năm. Vậy mà sau thành một trong những nhà
xuất bản tạp chí lớn nhất ở châu Mỹ. Chuyện đời cậu dài lắm. Nhưng nguyên nhân
kết quả đó là cậu thi hành những quy tắc dạy trong chương này.
Cậu thôi học từ hồi mười ba tuổi, phải làm công cho một công ty nọ. Nhưng vẫn
quyết chí học, học một ḿnh. Cậu nhịn ăn bữa trưa và để dành tiền giấy xe điện
cho tới khi mua được một cuốn tự điển tả công nghiệp các danh nhân nước Mỹ. Và
cậu nảy ra một ư rất mới. Sau khi đọc tiểu sử các danh nhân hiện đại, cậu viết
thư cho nhiều vị yêu cầu họ cho biết thêm những chi tiết thuộc hồi thơ ấu mà tự
điển không ghi chép. V́ cậu tỏ ra "biết nghe" cho nên được các danh nhân đó kể
chuyện ḿnh cho cậu. Hồi đại tướng J.A.Garfield ứng cử Tổng thống, cậu viết thư
hỏi có phải hồi thiếu thời đại tướng đă làm nghề kéo ghe trên kinh để độ nhật
không? Và Garfield trả lời cậu... Cậu lại viết thư hỏi đại tướng Grant xin cho
biết những chi tiết trong một trận mà đại tướng cầm quân. Grant vẽ cho cậu một
bản đồ rồi mời cậu (lúc đó cậu mới mười bốn tuổi rưỡi) lại nhà dùng cơm và nói
chuyện.
Nhờ khéo kích thích những người đó, tả lại những thành công của họ - một vấn đề
mà bất cứ danh nhân hay thường nhân ai cũng ưa nói tới mà không chán - cho nên
cậu bé xuất thân hèn hạ đó không bao lâu được giao thiệp với một số lớn danh
nhân nước Mỹ và được nhiều vị tiếp đăi như khách quư. Sự giao thiệp đó nung đúc
cho cậu một đức tự tin quư báu, một hoài băo và một hy vọng cao xa, xoay chuyển
hẳn cả cuộc đời cậu. Và tôi nhắc lại, được vậy chỉ nhờ cậu thi hành những quy
tắc mà chúng ta đương nêu ra đây.
Isaac Marcosson, nhà quán quân về môn phỏng vấn các danh nhân, nói rằng phần
đông phỏng vấn viên không thành công chỉ v́ quá chăm chú tới những câu vấn thành
ra không chú ư nghe những câu đáp... Nhiều danh nhân nói với Marcosson rằng họ
ưa gặp một người biết nghe hơn là một người biết nói chuyện. Tai hại thay! Khả
năng biết nghe đó h́nh như lại là khả năng hiếm thấy nhất.
Không phải chỉ các danh nhân mới thích được người ta nghe ḿnh nói đâu; về
phương diện đó, thường nhân cũng như họ. Một văn sĩ đă nói: "Nhiều người mời
lương y tới chỉ để kể lể tâm sự thôi".
Trong những ngày đen tối nhất của cuộc Nam Bắc chiến tranh, Lincoln viết thư mời
một ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để bàn về vài vấn đề. Ông bạn tới
Bạch Cung và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ bố cáo ông tính
công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Lincoln ôn lại tất cả những lư lẽ bênh vực đạo
luật đó và những lư lẽ chống đạo luật đó; ông đọc lại hết cả những bức thư và
bài báo nói về vấn đề đó, trong ấy có nhiều bài thống trách ông sao chưa phế trừ
chế độ nô lệ, lại có nhiều bài khác chỉ trích ông, v́ ông muốn hủy bỏ chế độ đó.
Sau khi diễn thuyết một hồi lâu, Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta b́nh
an và mời ông trở về Illinois, chẳng hỏi ư kiến ông ta một chút chi hết. Lincoln
đă nói để trút những nỗi suy nghĩ nó đè nặng trong ḷng ông, như vậy để cho óc
ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: "Khi ông Lincoln nói xong rồi, ông ấy
b́nh tĩnh hơn".
Lincoln không cần một người khuyên bảo, ông chỉ muốn có một bạn thân nghe ông
nói và hiểu ông để ông trút tâm sự của ông thôi. Hết thảy chúng ta chẳng như vậy
ư? Và ông khách hàng bực tức, người làm công bất b́nh, ông bạn mất ḷng... đều
cần kiếm người để than thở.
Nếu các bạn muốn người ta trốn bạn, chế giễu lén bạn hay khinh ghét bạn th́ bạn
làm như vầy: đừng bao giờ nghe người khác nói hết; bạn cứ nói hoài về bạn thôi.
Trong khi người khác nói, bạn nẩy ra một ư ǵ chăng, th́ đừng đợi người ta nói
hết câu. Đợi mà làm ǵ? Câu chuyện người ta kể đâu có thú vị hay ho bằng câu
chuyện bạn sắp kể ra? Tại sao mất th́ giờ nghe chuyện con gà con kê đó? Mạnh bạo
đi, cắt ngang câu người ta nói đi.
Bạn có quen ai hành động như vậy không? Riêng tôi, tôi đă thấy... Thực tai hại.
Chịu không nổi họ! Họ đầy tự phụ, say mê về cái quan trọng của họ! Nực cười nhất
là một số trong những kẻ đó lại được mọi người coi thuộc giới thượng lưu! Kẻ nào
chỉ nói về ḿnh th́ chỉ nghĩ tới ḿnh thôi. Và "kẻ nào chỉ nghĩ tới ḿnh thôi,
nhất định là một kẻ thiếu giáo dục". Ông Nicholas Murray Putler, giám đốc trường
Đại học Columbia nói vầy: "Dù kẻ đó học hành tới bực nào nữa th́ cũng vẫn là
thiếu giáo dục".
Vậy nếu bạn muốn người ta coi là nói chuyện có duyên th́ bạn phải biết cách
nghe. Nên nghe lời khuyên tài t́nh sau này của một người đàn bà: "Muốn được
người chú ư tới, trước hết phải biết chú ư tới người". Bạn nên đặt những câu vấn
mà ai cũng say mê đáp: tức như những câu hỏi về đời tư hay đời công của họ,
những thanh công của họ.
Nên nhớ rằng người nói chuyện với ta quan tâm tới những thị dục, những vấn đề
của họ trăm phần th́ chỉ quan tâm đến ta, đến nỗi thắc mắc của ta một phần thôi.
Bệnh nhức răng giày ṿ người đó hơn là cảnh đói kém làm chết cả triệu dân Trung
Quốc. Một cái nhọt tại cổ người đó làm cho người đó lo lắng hơn bốn chục nạn
động đất ở Châu Phi. Lần sau, có nói chuyện với ai, xin bạn nhớ tới điều đó.
Vậy muốn cho người mến, bạn theo quy tắc thứ tư sau này:
"Biết chăm chú nghe; và khuyến khích người khác nói tới họ".
Chương Năm
Làm sao để gây thiện cảm
Những ai đă gặp Tổng thống Théodore Roosevelt đều ngạc nhiên về sự biết nhiều,
hiểu rộng của ông. Bất kỳ một người chăn ḅ hay là một kỵ binh, một nhà chính
trị hay một nhà ngoại giao lại thăm ông, ông đều biết cách nói hỏi chuyện người
đó. Bí quyết của ông ư? Giản dị lắm. Khi Roosevelt phải tiếp một người khách,
th́ cả buổi tối hôm trước ông nghiên cứu vấn đề mà ông biết khách ưa nói tới hơn
hết.
Cũng như hết thảy những người dẫn đạo quần chúng, ông biết rằng cách thần diệu
nhất để chiếm ḷng người là bàn tới vấn đề mà người đó thường ấp ủ trong ḷng.
Một thiên tài, William Lyon Phelps, trước làm giáo sư văn chương ở Đại học đường
Yale, đă hiểu chân lư đó từ hồi c̣n nhỏ. Trong một bài tiểu luận về "Nhân tánh"
ông kể:
"Khi 8 tuổi, tôi về nghỉ hè ở nhà cô tôi. Một buổi tối, một ông khách lại chơi.
Sau khi chào hỏi cô tôi, ông hết sức chú ư tới tôi. Hồi đó tôi mê chơi tàu lắm
và ông nói về tàu một cách làm cho tôi thích đặc biệt. Khi ông về rồi, tôi nhiệt
liệt khen ông. Đáng phục là dường nào! Ông ấy yêu tàu làm sao? Và biết rơ nó làm
sao? Nhưng cô tôi bảo rằng ông ấy làm luật sư ở Nữu Ước và chẳng bao giờ để ư
tới tàu hết. Tôi la lên: "Thế th́ tại sao ông chỉ nói chuyện đến tàu cho cháu
nghe?".
Cô tôi trả lời: "Tại ông là một người có giáo dục, ông thấy cháu mê chơi tàu th́
ông nói về tàu. Ông ráng sức gây thiện cảm với cháu".
Và William Lyon Phelps nói thêm: "Không bao giờ tôi quên lời nhận xét đó của cô
tôi".
Hiện tôi c̣n giữ một bức thư của ông Edward L.Chalif, một người hoạt động nhiều
cho các hội hướng đạo sinh.
Ông viết: "Một hôm hay tin có một đoàn hướng đạo sắp đi qua châu Âu họp đại hội
các hướng đạo sinh toàn cầu, tôi muốn cho một hướng đạo sinh của tôi dự cuộc đó.
Tôi bèn lại thăm ông Hội trưởng một Xí nghiệp vào hàng lớn nhất ở Mỹ, xin ông
cấp cho nó phí tổn du lịch.
Trước khi tới thăm ông, tôi t́nh cờ được hay rằng ông mới kư một tấm chi phiếu
một triệu mỹ kim, rồi sau khi hủy bỏ đi, v́ không cần xài tới, ông đem đóng
khung lại, giữ làm kỷ niệm một vật hiếm có. Gặp mặt ông, tôi liền xin ông cho
coi vật quư đó. Một chi phiếu một triệu mỹ kim! Tôi nói với ông rằng tôi chưa
từng biết người nào kư một chi phiếu khổng lồ như vậy và tôi muốn kể lại cho
những hướng đạo sinh của tôi rằng chính mắt tôi đă thấy một chi phiếu một triệu
đồng! Ông vui vẻ đưa tôi coi. Tôi ngắm nghía, thán thưởng và xin ông kể cho nghe
v́ những đại sự mà ông đă phát nó ra".
Các bạn nhận thấy rằng ông Chalif khi bắt đầu câu chuyện không hề nói tới thướng
đạo sinh, tới cuộc du lịch hoặc tới mục đích của ông. Ông chỉ nói tới vấn đề mà
ông kia ưa nhất. Và sự khéo léo của ông được thưởng như sau này:
Một lúc sau, ông hội trưởng hỏi tôi: "à! Ông lại thăm tôi có chuyện chi?". Tôi
bày tỏ lời yêu cầu tôi. Và ngạc nhiên làm sao, ông ưng liền, lại c̣n cho tôi
nhiều hơn số tôi muốn nữa. Tôi chỉ xin phí tổn cho một hướng đạo sinh, mà ông
chịu phí tổn cho tới năm người và cả cho tôi nữa, ông lại c̣n cho tôi một tờ tín
dụng trạng để tới châu Âu, lănh một ngàn mỹ kim. Ông lại khuyên tôi nên ở châu
Âu bảy tuần lễ. Ông c̣n đưa cho nhiều bức thư giới thiệu tôi với các ông đại lư
của ông. Khi chúng tôi tới Paris, lúc ấy ông có mặt tại đó, ông tiếp đón chúng
tôi và tự lái xe đưa chúng tôi đi coi châu thành nữa.
"Từ hồi đó, ông đă kiếm việc cho nhiều hướng đạo sinh của chúng tôi mà cha mẹ
nghèo. Và cho tới nay, ông vẫn c̣n sốt sắng giúp đỡ đoàn của chúng tôi.
Tôi biết chắc rằng nếu trước kia tôi không kiếm được cái sở thích của ông và làm
cho ông vui ḷng ngay từ lúc đầu, th́ ông không cho tôi được một phần mười những
cái ông đă cho tôi".
Phương pháp đó có nên thi hành trong những giao thiệp về thương măi không? Th́
đây, ta hăy xét tới trường hợp của ông Henry G. Duvernoy, một trong những nhà
làm bánh ḿ lớn nhất ở Nữu Ước.
Đă bốn năm rồi, ông ta kiếm cách bán bánh cho một khách sạn nọ ở Nữu Ước. Mỗi
tuần lại thăm ông chủ khách sạn một lần; mỗi khi ông này dự cuộc công ích nào
th́ ông Duvernoy cũng có mặt tại đó, tới đỗi ông c̣n mướn pḥng ở ngay trong
khách sạn đó để "thuyết" ông kia. Công dă tràng.
Sau khi theo học lớp giảng của chúng tôi, ông Duvernoy thay đổi chiến lược. Ông
kiếm cách ḍ biết thị hiếu của ông giám đốc khách sạn.
Tôi hay rằng - lời ông Duvernoy nói - ông ấy nhờ hăng hái hoạt động cho một liên
đoàn các chủ nhân khách sạn mà mục đích là phô trương "sự tiếp đăi niềm nở của
châu Mỹ", nên được làm hội trưởng hội đó. Liên đoàn đó sau được các chủ nhân
khách sạn vạn quốc gia nhập và trở nên một hội quốc tế mà chính ông được làm hội
trưởng. Hội nghị của những hội đó họp ở đâu th́ dẫu phải lội suối trèo đèo, vượt
đại dương, qua sa mạc, ông cũng tới dự.
Cho nên lần sau gặp ông, tôi nói ngay tới liên đoàn của ông.
Và, các bạn ơi! Nồng nàn làm sao! Ông hùng hồn diễn thuyết trong nửa giờ đồng hồ
về tổ chức đó. Và tôi thấy rơ ràng những hội đó là cái "nghiện" của ông, là lẽ
sống của đời ông. Trước khi từ giă ông, th́ ông đă bán cho tôi một tấm thẻ hội
viên.
Tôi không hề nói tới bánh của tôi. Nhưng vài hôm sau, người quản lư khách sạn
kêu điện thoại bảo tôi mang mẫu bánh lại để tính giá cả.
Người đó bảo tôi: "Không biết ông đă làm ǵ mà chủ tôi thích ông tới nỗi ngồi
đâu cũng chỉ nói tới ông thôi".
Các bạn thử tưởng tượng: Theo đuổi ông ấy bốn năm trời mà chẳng kết quả chi hết.
Nếu tôi không biết cách kiếm những thị hiếu và những cái ông ấy mê nhất th́ bây
giờ chắc vẫn c̣n phải năn nỉ ông ấy mua giúp cho nữa".
Vậy muốn gây thiện cảm với ai, xin bạn:
"... Nói với người ấy về cái sở thích, hoài băo của họ".
Đó là quy tắc thứ năm.
Chương 6
Làm sao cho người ta ưa ḿnh liền
Hôm nọ tôi lại sở Bưu điện. Khi đợi tới lượt tôi để gởi thư bảo đảm, tôi để ư
tới bộ mặt chán chường của thầy thư kư. Một cuộc đời ngày ngày cân thư, bán c̣,
biên chép như vậy tất nhiên không thú ǵ hết. Tôi tự nhủ: "Ráng làm vui cho anh
chàng này một chút, làm cho y nở một nụ cười... Muốn vậy, phải khen y cái ǵ mới
được. Thử kiếm xem y có cái ǵ thực đáng khen không?". Không phải dễ, v́ ḿnh
không quen người ta. Nhưng trường hợp hôm đó rất dễ v́ thầy thư kư ấy có bộ tóc
rất đẹp.
Vậy, trong khi thầy ấy cân thư của tôi, tôi nói: "Tôi ước ao có được bộ tóc như
thầy!".
Thầy ấy ngửng đầu lên hơi ngạc nhiên, nét mặt tươi cười và nhũn nhặn trả lời:
"Bây giờ nó đă kém trước rồi". Tôi nói rằng trước ra sao không biết, chứ bây giờ
tóc thầy c̣n đẹp lắm. Thầy rất hoan hỉ. Chúng tôi nói chuyện vui vẻ một lúc. Khi
tôi ra về, thầy ấy nói thêm: "Thưa ông, quả đă có nhiều người khen tóc tôi".
Tôi dám cuộc với bạn rằng bữa đó thầy về nhà, vui như sao, kể lại chuyện cho vợ
nghe và buổi tối, khi rửa mặt, ngắm bộ tóc trong gương, tự nhủ, "Kể ra tóc ḿnh
đẹp thiệt".
Khi tôi kể lại chuyện đó, một người học tṛ tôi hỏi: "Nhưng ông muốn cầu người
đó điều chi?".
Tôi muốn cầu người đó điều chi ư? Trời cao đất dày! Nếu chúng ta ích kỷ một cách
ti tiện đến nỗi không phân phát được một chút hạnh phúc cho người chung quanh,
đến nỗi hễ khen ai là cũng để hy vọng rút của người ta cái lợi ǵ, nếu tim ta
không lớn hơn trái ổi rừng, th́ chúng ta có thất bại cũng là đáng kiếp.
Nhưng quả tôi có cầu anh chàng đó cho tôi một vật, một vật vô cùng quư báu: là
sự hài ḷng cao thượng v́ đă có một hành vi hoàn toàn không vị lợi, một hành vi
nhân từ mà ta sẽ vui vẻ nhớ tới hoài.
Có một định luật quan trọng nhất mà chúng ta phải theo khi giao thiệp. Theo nó
th́ việc ǵ cũng hóa dễ, trở ngại ǵ cũng thắng được, ta sẽ có vô số người
thương, sẽ thành công và vui sướng.
Nếu làm trái luật đó tức th́ những nỗi khó khăn sẽ hiện ra. Luật đó là: "Luôn
luôn phải làm cho người cảm thấy sự quan trọng của họ". Như trên kia tôi đă nói,
giáo sư John Dewey cho rằng thị dục huyễn ngă là thị dục mạnh nhất của loài
người. Chính thị dục đó làm cho người khác loài vật.
Trong mấy chục thế kỷ, các triết nhân t́m kiếm những định luật chi phối những sự
giao thiệp giữa người với người và tất cả những sự t́m ṭi đó đều đưa đến mỗi
một quy tắc không mới mẻ ǵ, một quy tắc đă có từ hồi nhân loại mới có sử. Ba
ngàn năm trước. Zoroastre đă dạy quy tắc đó cho dân Ba Tư thờ thần lửa. Hai mươi
bốn thế kỷ trước, Khổng Tử đă giảng tới nó. Lăo Tử cũng đă đem ra dạy học tṛ.
Năm thế kỷ trước Thiên Chúa giáng sinh, Đức Thích Ca đă tuyên bố nó trên bờ sông
Hằng, mà quy tắc đó đă được phép trong sách đạo Bà La Môn, một ngàn năm trước
khi Đức Thích Ca ra đời.
Sau này, Đức Giê Su đem nó ra giảng trên những đồi đá ở xứ Judée. Tư tưởng đó
tóm tắt trong một câu này, có lẽ là định luật quan trọng nhất trong thế giới:
"Con muốn được người ta cư xử với con ra sao th́ con cư xử với người ta như
vậy".
Bạn muốn những người bạn gặp gỡ đồng ư với bạn. Bạn muốn người ta thừa nhận tài
năng của bạn. Tự thấy ḿnh quan trọng trong khu vực của bạn, bạn thấy thích. Bạn
ghét những lời tán dương giả dối thô lỗ, nhưng bạn cũng thèm khát những lời khen
thật. Bạn muốn bạn thâm giao với bạn đồng nghiệp cực lực tán thành và không tiếc
lời ca tụng bạn. Hết thảy chúng ta ai cũng muốn như vậy.
Vậy chúng ta hăy tuân lời Thánh kinh: "Muốn nhận của người ta cái ǵ th́ cho
người ta cái đó".
Ta cần phải xử sự như vậy khi nào? Bằng cách nào?... ở đâu?... Xin đáp: Bất kỳ
lúc nào và bất kỳ ở đâu.
Một hôm, tới một sở thông tin, tôi hỏi một thầy kư chuyên môn tiếp khách, chỉ
cho tôi pḥng làm việc của bạn tôi, ông Henri Souvaine. Bận một chế phục sạch
sẽ, thầy ta có vẻ tự đắc giữ việc chỉ dẫn đó lắm. Thầy trả lời tôi rơ ràng từng
tiếng một: "Henri Souvaine (ngừng một chút) lầu 18 (ngừng một chút) pḥng 1816".
Tôi sắp chạy lại thang máy. Nhưng tôi ngừng lại và quay lại nói: "Tôi khen thầy.
Thầy đă chỉ đường cho tôi một cách rơ ràng, thông minh lắm. Thầy có giọng nói
của một tài tử. Cái đó hiếm lắm".
Tươi như bông hoa, thầy giảng cho tôi nghe tại sao mỗi lần thầy ngừng lại và nói
rơ ràng từng tiếng.
Những lời tôi khen làm cho thầy cao lên được vài phân. Và trong khi bay lên lầu
thứ 18, tôi cảm thấy rằng chiều hôm đó tôi đă làm tăng được đôi chút cái tổng
lượng hạnh phúc của nhân loại.
Đừng bảo phải là một quốc vương trên ngai vàng hay là một đại sứ của Mỹ ở Pháp
mới cần thi hành triết lư đó. Bạn có thể dùng thuật đó mỗi ngày.
Chẳng hạn, bạn đ̣i món khoai chiên mà chị hầu bàn đưa lên món khoai nghiền, bạn
chỉ cần nói ngọt ngào: "Tôi ân hận v́ làm phiền chị, nhưng tôi thích món khoai
chiên hơn", th́ chị đó vui vẻ trả lời ngay: "Không sao, thưa ông, để tôi đổi hầu
ông", v́ chị ấy cảm động khi thấy được bạn kính trọng.
Những câu ngăn ngắn như: "Xin lỗi đă làm phiền ông... xin ông có ḷng tốt... ông
làm ơn..." và sau cùng không quên hai chữ "cám ơn" là một thứ dầu làm trơn tru
bộ máy sinh hoạt hằng ngày của ta mà lại là dấu hiệu của một sự giáo dục tốt
nữa.
Xin bạn nghe chuyện nhà viết tiểu thuyết Hall Caine. Ông thân ông làm thợ rèn và
hồi nhỏ ông học ít lắm. Vậy mà khi qua đời, ông là một nhà văn giàu nhất thế
giới.
Chuyện đời ông như vầy: Ông thích thơ của Dante Gabriel Rossetti lắm. Ông diễn
thuyết ca tụng tác phẩm của thi nhân đó, rồi chép bài diễn văn gởi biếu thi
nhân. Ông này thích lắm và chắc tự nghĩ: "Người này trẻ tuổi mà biết trọng tài
ta như vậy, tất phải là người thông minh". Rồi Rossetti mời người con một anh
thợ rèn đó lại làm thư kư cho ông. Nhờ địa vị mới đó, Caine gặp được những đàn
anh trong văn đàn, được họ khuyên bảo khuyến khích, bắt đầu viết văn và sau nổi
danh tới nỗi lâu đài ông ở tại cù lao Man đă trở nên hơi chiêm bái của các nhà
du lịch, và ông đă để lại một gia tài là hai triệu năm trăm ngàn đồng. Nếu ông
không viết bài khen ông Rossetti th́ biết đâu ông đă chẳng chết trong nghèo nàn
và không một ai biết tới.
Đó, cái mănh lực phi thường của lời khen là như vậy, khi nó tự đáy ḷng phát ra.
Thi nhân Rossetti tự cho là một nhân vật quan trọng. Cái đó có chi lạ? Ai trong
chúng ta mà không tự cho là quan trọng, tối quan trọng?
Dân tộc cũng không khác chi cá nhân hết.
Bạn tự thấy ḿnh hơn người Nhật ư? Sự thật th́ người Nhật tự cho họ hơn bạn vô
cùng. Một người Nhật trong phái cổ chẳng hạn, tức giận lắm khi thấy một người
đàn bà Nhật khiêu vũ với một người da trắng.
Bạn có tự cho rằng ḿnh hơn người ấn Độ không? Đó là quyền của bạn. Nhưng có tới
một triệu người ấn Độ, khinh bạn tới nỗi không chịu mó tới thức ăn mà bóng nhơ
nhớp của bạn đă phớt qua; v́ sợ lây cái nhơ nhớp qua họ.
Bạn tự cho là hơn những thổ dân ở miền Bắc Cực nhiều lắm ư? Bạn được hoàn toàn
tự do nghĩ như vậy. Nhưng sự thiệt, thổ dân đó khinh bạn vô cùng. Bạn muốn biết
ḷng khinh đó tới bực nào? Th́ đây: Trong bọn họ, có kẻ khốn nạn nào đần độn đến
nỗi không làm nổi một việc chi hết th́ họ gọi là "Đồ da trắng". Đó là lời chửi
thậm tệ nhất của họ.
Dân tộc nào cũng tự cho ḿnh hơn những dân tộc khác. Do đó mà có ḷng ái quốc -
và có chiến tranh!
Chúng ta can đảm nhận kỹ chân lư này: Mỗi người mà chúng ta gặp đều tự coi có
một chỗ nào hơn ta.
Nếu bạn muốn được ḷng người đó, hăy khéo léo tỏ cho họ thấy rằng ta thành thật
nhận sự quan trọng của họ trong địa vị của họ.
Xin bạn nhớ lời này của Emerson: "Mỗi người đều có chỗ hơn tôi; cho nên ở gần
họ, tôi học họ được".
Điều đau ḷng là nhiều khi những kẻ không có chút chi đáng tự kiêu hết lại khoe
khoang rầm rộ để che lấp những thiếu sót của họ, khoe khoang tới nỗi làm chướng
tai gai mắt người khác.
Như Shakespeare đă nói: "Người đời! Ôi! Người đời kiêu căng! Khoác được chút uy
quyền, người đó liền diễn trước Hóa công những hài kịch lố lăng tới nỗi các vị
thiên thần thấy phải sa lệ".
Và bây giờ, tôi xin kể ba thí dụ mà sự áp dụng những phương pháp trên kia đă
mang lại những kết quả rất khả quan.
Thí dụ thứ nhất: Một ông đại tung mà ta gọi là R... v́ ông ta muốn giấu tên. ít
lâu sau khi bắt đầu theo lớp giảng của tôi, ông với vợ đi xe hơi về quê bà để
thăm họ hàng. Bà ta mắc đi thăm những nơi khác, cho nên một ḿnh ông hầu chuyện
một bà cô bên nhà vợ. Ông quyết thực hành ngay những lư thuyết đă học được và
kiếm chung quanh ông xem có cái ǵ có thể chân thành khen được không.
Ông hỏi bà cô:
- Thưa cô, nhà cô cất năm 1890?
- Phải, chính năm đó.
Ông R. tiếp:
- Coi nhà này tôi nhớ lại nơi tôi sinh trưởng. Nhà đẹp quá!.. rộng... kiểu rất
khéo... Bây giờ người ta không biết xây nhà đẹp như vậy nữa.
Bà già nói:
- Cháu nói có lư. Thanh niên bây giờ không biết thế nào là một ngôi nhà đẹp. Họ
chỉ muốn có một căn phố nhỏ, một máy lạnh, rồi dong xe hơi, đi chơi phiếm.
Bằng một giọng cảm động, bà ôn lại những kỷ niệm êm đềm hồi xưa:
"Nhà này là kết tinh của biết bao nhiêu năm mơ tưởng. Vợ chồng tôi đă âu yếm mà
xây dựng nó, sau khi ấp ủ nó trong ḷng gần nửa đời người. Chính chúng tôi là
kiến trúc sư đó...".
Rồi bà dắt ông R, đi thăm các pḥng, chỉ cho coi từng bảo vật bà đă góp nhặt
được trong những cuộc du lịch và đă nâng niu suốt một đời. Khăn bằng hàng
Cachemire đồ xứ cổ, giường ghế đóng ở Pháp, bức tranh của họa sĩ ư Đại Lợi và
những tấm màn bằng tơ, di tích của một lâu đài bên Pháp... Nhất nhất ông R. đều
thán thưởng.
Sau khi coi hết các pḥng rồi, bà đưa tôi đi coi nhà để xe. Tại đó, có kê một
cái xe hơi hiệu Packard, gần như mới nguyên.
Với một giọng êm đềm bà nói: "Dượng cháu mua chiếc xe này được ít lâu th́ mất,
từ hồi đó cô chưa đi nó lần nào hết...
Cháu sành và có óc thẩm mỹ... Cô muốn cho cháu chiếc xe này".
Tôi ngạc nhiên và đáp:
- Thưa cô, cô thương cháu quá. Cô rộng răi quá, cháu cảm động lắm, nhưng thiệt
t́nh cháu không thể nào nhận được. Cháu là cháu rể xa. Vả lại cô c̣n nhiều cháu
ruột, cô để cho các anh ấy, các anh ấy sẽ mừng lắm.
Bà la lên: "Cháu ruột! Phải, cái thứ cháu nó chỉ mong già này chết để chiếm xe
hơi của già? Không khi nào già để xe Packard này về tay chúng nó đâu!".
- Vậy th́ có thể đem bán cho một hăng xe được.
Bà lớn tiếng: "Bán ư? Cháu tưởng cô bán xe này sao? Chịu thấy những người lạ ngự
trong chiếc xe này sao? Một chiếc xe dượng cháu mua cho cô, mà đem bán nó? Không
khi nào! Cô cho cháu đấy, v́ cháu biết yêu những đồ đẹp".
Từ chối th́ sợ phật ư bà cô, cho nên ông R. phải nhận.
Bà già đó sống một ḿnh trong một dinh cơ rộng như vậy, giữa đống khăn quàng, đồ
cổ và kỷ niệm, nên khát khao chút t́nh âu yếm. Hồi xưa bà trẻ, đẹp, được nhiều
người tâng bốc. Bà cất ngôi nhà ấy, yêu mến nó, trang hoàng nó bằng tất cả những
bảo vật thu thập được ở châu Âu. Và bây giờ trong cảnh về già buồn tẻ cô độc, bà
khát khao chút ḷng thương, chút ấm áp trong ḷng và ít lời thán phục mà không
có kẻ nào biết làm vừa ḷng bà hết. Khi gặp được những cái ao ước từ lâu đó,
khác nào đi giữa băi sa mạc mà gặp được ḍng suối, bà tất nhiên cảm tấm ḷng
người cháu rể lắm và cho ngay một chiếc xe hơi lộng lẫy.
Một người học tṛ khác của tôi, lại vẽ vườn cho một ông trưởng ṭa có danh, thấy
bầy chó của ông này đẹp, khen: "Thưa ông, bầy chó của ông ngộ lắm, chắc ông được
nhiều giải thưởng trong những cuộc thi chó đẹp".
Ông trưởng ṭa vui ḷng lắm, dắt họa sĩ đi coi bầy chó ông nuôi và những giải
thưởng chúng đă chiếm được, nói chuyện rất lâu về ḍng giống các con chó đó và
sau cùng hỏi:
- Ông có em trai nhỏ không?
- Thưa, tôi có một cháu trai.
- Chắc nó thích nuôi một con chó nhỏ?
- Nói chi nữa, chắc nó mê đi.
- Được! Để tôi cho cháu một con.
Rồi ông trưởng ṭa chỉ cho họa sĩ cách nuôi chó lại cẩn thận đánh máy lên giấy,
sợ ông này không nhớ hết.
Thành thử ông trưởng ṭa đó cho họa sĩ một con chó đáng 100 mỹ kim và bỏ ra một
giờ quư báu của ông chỉ v́ họa sĩ đă thành thật khen tài nuôi chó và bầy chó của
ông.
Làm sao cho người ta ưa ḿnh liền
George Eastman, vua hăng sản xuất phim Kodak, đă chế ra thứ phim trong suốt để
chiếu bóng được và kiếm được cả trăm triệu mỹ kim, nổi tiếng khắp hoàn cầu. Mặc
dầu vậy, ông ấy cũng như bạn và tôi, cảm động trước những lời khen tầm thường
nhất.
Hồi đó ông Eastman xây một âm nhạc học đường và một nhà hát để báo hiếu cho mẹ.
Ông Adamson, giám đốc một hăng đóng ghế quan trọng, muốn được ông Eastman mua
ghế giúp để dùng trong hai ngôi nhà đó. Ông Adamson bèn dùng điện thoại gọi viên
kiến trúc sư của ông Eastman để xin được hầu chuyện ông Eastman.
Khi ông Adamson tới, viên kiến trúc sư dặn: Ông Eastman bận việc lắm. Ông có
muốn nói ǵ th́ nói mau đi rồi ra. Nếu ngồi lâu quá năm phút th́ đừng có hy vọng
ǵ thành công hết.
Viên kiến trúc sư dắt ông Adamson vô pḥng ông Eastman, ông này đương cặm cụi
trên bàn giấy một hồi lâu mới ngửng đầu lên, tiến lại gần hai ông kia nói: Chào
hai ông, các ông có việc chi?.
Viên kiến trúc sư giới thiệu ông Adamson rồi, ông này nói:
Thưa ông Eastman, trong khi đứng đợi, tôi ngắm pḥng giấy ông. Làm việc trong
một pḥng như pḥng này thực là một cái thú. Hăng tôi cũng có làm những ván lót
tường. Nhưng tôi chưa thấy pḥng làm việc nào lót ván đẹp bằng pḥng này.
Ông Eastman:
Ông làm tôi nhớ lại một điều mà tôi cơ hồ quên mất. Phải, pḥng này đẹp thật.
Hồi mới đầu tôi thích nó lắm. Nhưng bây giờ tôi quen rồi; với lại bận việc nhiều
quá, có khi hàng tuần không để ư tới những trang hoàng đó.
Adamson đi thẳng lại những tấm ván, lấy tay sờ.
Thứ này bằng cây sồi mọc bên Anh, phải không ông? Hơi khác thứ sồi mọc bên ư.
Đúng vậy, ông Eastman trả lời - Tôi chở nó tự bên Anh về. Một ông bạn sành về
các loài danh mộc đă lựa giùm tôi.
Rồi ông Eastman chỉ cho ông Adamson tất cả những đồ trang hoàng trong pḥng,
chính do ông chỉ bảo, sắp đặt. Hai người lại đứng trước cửa sổ, ông Eastman nhũn
nhặn và kín đáo như thường lệ, lấy tay chỉ những công cuộc ông đă gây dựng để
giúp nhân loại. Ông Adamson nhiệt liệt khen ông đă biết dùng tiền. Một lúc sau,
ông Eastman mở một tủ kính, lấy ra một máy chụp h́nh, cái máy thứ nhất của ông,
do một người Anh bán cho ông.
Ông Adamson hỏi ông về những nỗi khó khăn buổi đầu và ông cảm động, kể lể về
cảnh nghèo khổ của ông hồi nhỏ: Bà mẹ góa, nấu cơm cho khách trọ, c̣n ông th́
làm thầy kư, sao khế ước cho một sở bảo hiểm để kiếm mỗi ngày 5 cắc. Cảnh nghèo
khổ ám ảnh ông ngày đêm, làm ông lo sợ lắm và nhất quyết kiếm sao cho có đủ tiền
để bà cụ khỏi cảnh vất vả không kể chết đó.
Thấy ông Adamson chăm chú nghe, ông hăng hái tả những đêm thí nghiệm các tấm
kính chụp h́nh, sau khi đă vất vả cả ngày ở pḥng giấy, chỉ chợp mắt được một
chút trong khi đợi các chất hóa học ngấm. Thành thử có lần luôn 27 giờ đồng hồ,
ông không có dịp thay quần áo.
Sau cùng, ông nói:
Lần du lịch cuối cùng qua Nhật Bản, tôi có mua về một bộ ghế bày trong hành lang
nhà tôi. Nhưng nắng giọi làm lở sơn, nên chính tay tôi phải sơn lại. Ông có muốn
biết tài sơn ghế của tôi không? - Trưa nay ông lại dùng cơm với tôi, tôi chỉ cho
ông coi.
Sau bữa cơm, ông Eastman dắt khách đi xem ghế. Ghế xấu, chỉ đáng giá một đồng
một chiếc, nhưng ông Eastman là người đă kiếm được cả trăm triệu bạc vinh hạnh
khoe những chiếc ghế đó lắm, v́ chính tay ông đă sơn nó.
Rút cuộc, cái com-măng ghế chín vạn mỹ kim đó ai được lănh, chắc bạn đă hiểu. Và
từ đó hai người thành cặp tri kỷ cho tới khi ông Eastman mất.
Cái ảo thuật của lời khen đó có nên dùng trong gia đ́nh không? Tôi tưởng không
có nơi nào người ta cần dùng nó - mà cũng xao nhăng nó - bằng trong gia đ́nh.
Bà ở nhà chắc có ít nhiều tánh tốt; ít nhất hồi xưa ông cũng nghĩ như vậy; nếu
không, sao ông cưới bà? Nhưng đă bao lâu rồi ông chưa hề khen bà một lời? Từ hồi
nào?
Bà Dorothy Dix, nổi danh về những câu chuyện hàng ngày, nói:
Chưa học nghệ thuật khen th́ xin ông đừng lập gia đ́nh. Trước khi cưới bà, ông
làm vui ḷng bà là một sự lịch thiệp; sau khi cưới rồi, nó là một sự cần thiết
và một bảo đảm cho hạnh phúc trong gia đ́nh...
Nếu ông muốn mỗi bữa cơm thường là một bữa tiệc, th́ xin ông đừng bao giờ chê bà
nhà nấu nướng vụng; đừng bao giờ bực ḿnh mà so sánh những món của bà làm với
những món của cụ bà làm hồi xưa. Trái lại, cứ khen không ngớt tài quản gia của
bà, cứ khen thẳng ngay rằng bà hoàn toàn, đă duyên dáng mặn mà, đủ công ngôn
dung hạnh lại c̣n là một nội trợ kiểu mẫu nữa. Cả những khi cơm khê, canh mặn,
ông cũng không nên phàn nàn. Chỉ nên nói rằng bữa cơm lần đó không được hoàn
toàn bằng những lần trước thôi. Và để đáng được nhận lời khen đó, bà sẽ chẳng
quản công trong việc bếp núc. Phải khéo léo, đừng khen bất ngờ quá, cho bà khỏi
nghi.
Nhưng chiều nay hay chiều mai, ông nên mua ít bông về biếu bà. Đừng nói suông:
Phải, việc đó nên làm, rồi để đó. Phải làm ngay đi. Và xin ông nhớ kèm thêm một
nụ cười với vài lời âu yếm. Nếu người chồng nào cũng đỗi đăi với vợ cách đó th́
đâu có nhiều vụ ly dị như vậy?
Bạn có muốn biết làm sao cho một người đàn bà mê bạn không? Cái đó mới tài!
Không phải bí quyết của tôi đâu, mà của bà Dorothy Dix. Một lần bà phỏng vấn một
anh chàng nổi tiếng có nhiều vợ, đă chiếm được trái tim - vả cả vốn liếng nữa -
của 23 người đàn bà. (Tôi phải nói rằng bà phỏng vấn anh chàng ấy ở trong khám).
Khi bà hỏi anh ta làm sao mà dụ dỗ được nhiều đàn bà như vậy th́ anh ta đáp:
Thằng khờ nào mà chẳng làm được... Th́ cứ khen họ cho họ nghe.
Thuật đó dùng với đàn ông cũng có kết quả mỹ măn. Disraeli, một trong những nhà
chính trị khôn khéo nhất đă nắm vận mạng cả đế quốc Anh, có lần nói: Gặp một
người, cứ nói với họ về chính bản thân họ, họ sẽ nghe bạn hàng giờ.
Vậy muốn được thiện cảm của người khác, xin bạn theo quy tắc thứ sáu:
Làm sao cho họ thấy cái quan trọng của họ.
Các bạn đọc tới đây đă nhiều rồi. Xin gấp sách lại - Và ngay từ bây giờ, người
đầu tiên nào lại gần bạn, bạn cũng đem thí nghiệm vào họ thuật khen đó đi. - Bạn
sẽ thấy thực là thần diệu.
Sáu cách gây thiện cảm:
1- Thành thật chú ư tới người khác.
2- Giữ nụ cười trên môi
3- Xin nhớ rằng người ta cho cái tên của người ta là một âm thanh êm đềm nhất,
quan trọng nhất trong các âm thanh.
4- Biết nghe người khác nói chuyện. Khuyến khích họ nói về họ.
5- Họ thích cái ǵ th́ bạn nói với họ về cái đó.
6- Thành thật làm cho họ thấy sự quan trọng của họ.